Bel Canto (mỹ ca / hát đẹp) là một danh từ dùng để chỉ định môt kỹ thuật hát của xứ Ý với phẩm chất trong sáng và lớn rộng mà các ca sĩ Ý dùng để chinh phục người nghe .Bí quyết của bel canto là làm sao chuyển từ giọng ngực (voix de poitrine / chest voice) sang giọng óc (voix de tête / head voice) mà không nghe sự chuyển giọng đó và làm nới rộng tầm cỡ âm vực (registre / register ; ambitus / range) giữa giọng nói bình thường và giọng hát lúc diễn xuất .
Bel Canto bắt nguồn từ thời Trung cổ, nhưng được phát hiện vào thê kỷ 16 /17. Các giáo sư Ý dạy kỹ thuật hát bel canto cho học trò . Khi học trò đạt được kỹ thuật này, thầy dạy hát bắt học trò phải lập đi lập lại cả trăm lần cho tới khi nào thấm nhập vào trí não mới thôi .
Lúc đầu Bel Canto chỉ dành cho nam ca sĩ . Khi "opera" được tạo ra, kỹ thuật hát Bel Canto trở thành cách hát chánh thức của loại nhạc kịch này vào thời kỳ "tái sinh" (Renaissance ) . Dần dần giọng soprano cũng dùng kỹ thuật Bel Canto để hát . Ngày nay, cảc giọng sopranos như Joan Sutherland, Kathleen Battle, và Cecilia Bartoli bảo trì truyền thống bel canto này .
Những nhà viết opéra đặc biệt cho giọng Bel Canto nổi tiếng gồm có Rossini, Donizetti, Bellini Marcello và Puccini . Một vài ca sĩ danh tiếng hiện nay như Pavaroti, Andrea Bocelli nổi tiếng thế giới qua hát loại Bel canto trong loại nhạc cổ điển nhẹ (musique classique légère / light classical music) và ca khúc thời trang (chansons de variétés / pop songs) cho thấy là kỹ thuật bel canto vẫn còn sống mạnh khi bước vào thế kỷ 21 .
Các truyền thống hát ở Á châu
Á châu là một lục địa có nhiều truyền thống về giọng nhứt đi từ giọng thật trầm như giọng các thiền sư Tây Tạng tới giọng thật cao của các diễn viên hát kinh hí của Trung quốc .Về cách rung giọng có thể nghe các kỹ thuật rung giọng của xứ Ba Tư (tahir) , Ấn độ (gamak, alankara), Việt Nam (đổ hột trong ca trù), Hàn quốc (cách rung giọng trong hát pansori, kagok, sijo)
Ba Tư : Trong kỹ thuật hát của xứ Ba Tư có kỹ thuật rung giọng gọi là TAHIR và phải hát bằng giọng ngực và rung giọng trên nhiều cao độ (mélisme/ melisma) như tiếng nức nở . Kỹ thuật này có vài điểm tương tự trong truyền thống giọng của các quốc gia Ả rạp . Ông lý thuyết gia nhạc ả rạp và Ba Tư Al Farabi đã kê liệt một danh sách kỹ thuật giọng đầy đủ chi tiết : giọng trong, sáng , trầm, bổng, êm dịu, cao vút, the thé, khô khan, nào ruột, hậm hực, khò khè, khọt khẹt, rạo rực, bóng bẩy, nhí nhảnh, vv…Giọng rè, khàn được cho là giọng đẹp .
Ấn độ : Xứ Ấn độ với hai truyền thống Bắc (Hindousthani) và Nam (Carnatique) có ba thể hát đòi hỏi nhiều năm luyện tập : Dhrupad , Khyal, và Thumri .Hát Dhrupad là khó nhất , cổ xưa nhất xứ Ấn độ đã được gia đình Dagar gìn giữ cả mấy trăm năm nay . Hát loại này phải dùng giọng ngực mà thôi và phải phát rộng âm vực tới 2 bát độ rưỡi (2 octaves ½) và luyện cách ngân, rung giọng ( hơi giống lúc bị trúng mưa , lạnh rung , môi tím lè, thoát ra một giọng rung lập cập). Hát Khyal dễ hơn Dhrupad nhưng cũng khó đối với người chưa bao giờ học, có đặc tánh là hát rất phóng túng, tùy hứng và chạy chữ rất mau qua những kỹ thuật đánh lưỡi, rung dây thanh quản cực kỳ mau lẹ . Hat Thumri dùng giọng nhẹ nhàng hơn . Nhưng cả ba thể loại hát phải biết nắm vững các điệu thức RAGA và các công thức tiết tấu TALA là hai khía cạnh đặc thù của nhạc Ấn .
Nam Dương : Xứ Nam Dương với trên 200 triệu dân và cả ngàn đảo lớn nhỏ có nhiều truyền thống giọng quan trọng . Đặc biệt là trên đảo Bali có một nghệ thuật hát tập thể trong thể loại KECAK hát truyện RAMAYANA (đặc biệt của vùng Ấn độ và Đông Nam Á) . Nhóm ca sĩ gồm có gần 200 người ngồi dưới đất vừa có người hát đơn ca, trong khi ban hợp xướng bắt chước tiếng kêu thét của khỉ giống như tiếng "chắc chắc ! chắc! "tạo thành tiết tấu, đa âm, nhịp nội, ngoại đủ hết rất linh động . Kecak được sáng tạo vào đầu thế kỷ 20, bắt nguồn từ loại múa lên đồng ở tại đình chùa
Việt Nam : kỹ thuật lạ nhất và khó nhất trong cách hát của Việt Nam không phải là giọng óc trong hát bội, mà cũng không phải là giọng cao vút , the thé trong hát chèo , mà là giọng hát trong Ca Trù , một thể loại thình phòng của mền Bắc xứ Việt Nam . Nghệ thuật hát trong Ca Trù là làm sao khi hát miệng không mở to mà phải hát thật rõ , mỗi chữ phải uốn nắn thật là gian lao gọi là "nhả chữ". Tiếng hát phải cho tròn , rõ chữ . Giọng ngân trỗi lên và hạ xuống chậm rãi và nhỏ dần có tên rất gợi hứng là "đổ hột" gần giống như tiếng hột đậu đổ lên bàn, hay hạt trai rơi từng hạt xuống bàn . Nếu hát "đổ hột" thật là nhuyễn thì gọi đó là "đổ con kiến" (cách gọi của bà Quách Thị Hồ) . Ngoài ra có cách ém hơi tức là gằn giữ lấy hơi từ cổ họng chứ không phải phát âm từ lồng ngực như theo cách hát của phương Tây và được gọi là "ậm ự" . Hát đã khó (vì phải học ít nhứt là cả chục năm để trở thành ca sĩ chuyên nghiệp) lại còn phải biết gõ phách (là cả một nghệ thuật )
Hàn Quốc : Xứ Đại Hàn cũng có truyền thống hát phong phú . Trong loại hát bác học cung đình thì có hai thể loại ca khúc KAGOK và SIJO, hát chậm rãi, thoát giọng , và rung giọng khoan thai chứ không có mau lẹ , được cả một dàn nhạc Hyang ak (Hàn nhạc) đệm . Cách hát tượng trưng cho kỹ thuật hát của Hàn Quốc là trong hát tuồng PANSORI . Một ca sĩ (nữ hay nam) một mình trên sân khấu, tay cầm quạt, và tay cầm chiếc khăn đứng trên sân khấu cả 6 tiếng đồng hồ, kể chuyện với giọng hát nức nở, thổn thừc, gào thét, rên rỉ, hầm hừ, run rẩy, vv… vừa múa may chút đỉnh, với sự phụ họa của tiếng trống giống trống changgo gõ trên nhiều công thức tiết tấu rất khúc chiết .
Trung Quốc : Trung Quốc sáng tạo cách hát giọng óc (giọng the thé rất cao nghe muốn nhức óc nếu không quen) . Cách hát giọng óc (voix de tête / head voice) là chuyển sang giọng lên óc và pha trộn với giọng mũi và hát thật chanh chua chát chúa chỉ dành cho vai chánh nam và vai chánh nữ. Loại giọng này chỉ được dùng trong hát kinh hí (Peking Opera / Opera de Pekin) . Tất cả các loại tuồng khác đều dùng giọng thường. Tất cả những vai khác (lão, hề, vai phụ, ma quỷ) đều dùng giọng hát thường . Giọng này gần giống với giọng hát của những ca sĩ gọi là "CASTRAT" ở Tây phương tức là ca sĩ ngày xưa bị thiến để giữ mãi giọng đàn bà và gịọng cao soprano vì ngày xưa (Trung cổ) đàn bà không được vào nhà thờ hát . Ngày nay người hát theo kiểu Castrat hoàn toàn bình thường mà chỉ luỳện giọng cũng thành công hát được . Người hát loại giọng này nổi tiếng nhứt thế giới hiện nay là ông William Christie (người Anh) chuyên về hát giọng mái cho thể loại nhạc baroque .
Bel Canto bắt nguồn từ thời Trung cổ, nhưng được phát hiện vào thê kỷ 16 /17. Các giáo sư Ý dạy kỹ thuật hát bel canto cho học trò . Khi học trò đạt được kỹ thuật này, thầy dạy hát bắt học trò phải lập đi lập lại cả trăm lần cho tới khi nào thấm nhập vào trí não mới thôi .
Lúc đầu Bel Canto chỉ dành cho nam ca sĩ . Khi "opera" được tạo ra, kỹ thuật hát Bel Canto trở thành cách hát chánh thức của loại nhạc kịch này vào thời kỳ "tái sinh" (Renaissance ) . Dần dần giọng soprano cũng dùng kỹ thuật Bel Canto để hát . Ngày nay, cảc giọng sopranos như Joan Sutherland, Kathleen Battle, và Cecilia Bartoli bảo trì truyền thống bel canto này .
Những nhà viết opéra đặc biệt cho giọng Bel Canto nổi tiếng gồm có Rossini, Donizetti, Bellini Marcello và Puccini . Một vài ca sĩ danh tiếng hiện nay như Pavaroti, Andrea Bocelli nổi tiếng thế giới qua hát loại Bel canto trong loại nhạc cổ điển nhẹ (musique classique légère / light classical music) và ca khúc thời trang (chansons de variétés / pop songs) cho thấy là kỹ thuật bel canto vẫn còn sống mạnh khi bước vào thế kỷ 21 .
Các truyền thống hát ở Á châu
Á châu là một lục địa có nhiều truyền thống về giọng nhứt đi từ giọng thật trầm như giọng các thiền sư Tây Tạng tới giọng thật cao của các diễn viên hát kinh hí của Trung quốc .Về cách rung giọng có thể nghe các kỹ thuật rung giọng của xứ Ba Tư (tahir) , Ấn độ (gamak, alankara), Việt Nam (đổ hột trong ca trù), Hàn quốc (cách rung giọng trong hát pansori, kagok, sijo)
Ba Tư : Trong kỹ thuật hát của xứ Ba Tư có kỹ thuật rung giọng gọi là TAHIR và phải hát bằng giọng ngực và rung giọng trên nhiều cao độ (mélisme/ melisma) như tiếng nức nở . Kỹ thuật này có vài điểm tương tự trong truyền thống giọng của các quốc gia Ả rạp . Ông lý thuyết gia nhạc ả rạp và Ba Tư Al Farabi đã kê liệt một danh sách kỹ thuật giọng đầy đủ chi tiết : giọng trong, sáng , trầm, bổng, êm dịu, cao vút, the thé, khô khan, nào ruột, hậm hực, khò khè, khọt khẹt, rạo rực, bóng bẩy, nhí nhảnh, vv…Giọng rè, khàn được cho là giọng đẹp .
Ấn độ : Xứ Ấn độ với hai truyền thống Bắc (Hindousthani) và Nam (Carnatique) có ba thể hát đòi hỏi nhiều năm luyện tập : Dhrupad , Khyal, và Thumri .Hát Dhrupad là khó nhất , cổ xưa nhất xứ Ấn độ đã được gia đình Dagar gìn giữ cả mấy trăm năm nay . Hát loại này phải dùng giọng ngực mà thôi và phải phát rộng âm vực tới 2 bát độ rưỡi (2 octaves ½) và luyện cách ngân, rung giọng ( hơi giống lúc bị trúng mưa , lạnh rung , môi tím lè, thoát ra một giọng rung lập cập). Hát Khyal dễ hơn Dhrupad nhưng cũng khó đối với người chưa bao giờ học, có đặc tánh là hát rất phóng túng, tùy hứng và chạy chữ rất mau qua những kỹ thuật đánh lưỡi, rung dây thanh quản cực kỳ mau lẹ . Hat Thumri dùng giọng nhẹ nhàng hơn . Nhưng cả ba thể loại hát phải biết nắm vững các điệu thức RAGA và các công thức tiết tấu TALA là hai khía cạnh đặc thù của nhạc Ấn .
Nam Dương : Xứ Nam Dương với trên 200 triệu dân và cả ngàn đảo lớn nhỏ có nhiều truyền thống giọng quan trọng . Đặc biệt là trên đảo Bali có một nghệ thuật hát tập thể trong thể loại KECAK hát truyện RAMAYANA (đặc biệt của vùng Ấn độ và Đông Nam Á) . Nhóm ca sĩ gồm có gần 200 người ngồi dưới đất vừa có người hát đơn ca, trong khi ban hợp xướng bắt chước tiếng kêu thét của khỉ giống như tiếng "chắc chắc ! chắc! "tạo thành tiết tấu, đa âm, nhịp nội, ngoại đủ hết rất linh động . Kecak được sáng tạo vào đầu thế kỷ 20, bắt nguồn từ loại múa lên đồng ở tại đình chùa
Việt Nam : kỹ thuật lạ nhất và khó nhất trong cách hát của Việt Nam không phải là giọng óc trong hát bội, mà cũng không phải là giọng cao vút , the thé trong hát chèo , mà là giọng hát trong Ca Trù , một thể loại thình phòng của mền Bắc xứ Việt Nam . Nghệ thuật hát trong Ca Trù là làm sao khi hát miệng không mở to mà phải hát thật rõ , mỗi chữ phải uốn nắn thật là gian lao gọi là "nhả chữ". Tiếng hát phải cho tròn , rõ chữ . Giọng ngân trỗi lên và hạ xuống chậm rãi và nhỏ dần có tên rất gợi hứng là "đổ hột" gần giống như tiếng hột đậu đổ lên bàn, hay hạt trai rơi từng hạt xuống bàn . Nếu hát "đổ hột" thật là nhuyễn thì gọi đó là "đổ con kiến" (cách gọi của bà Quách Thị Hồ) . Ngoài ra có cách ém hơi tức là gằn giữ lấy hơi từ cổ họng chứ không phải phát âm từ lồng ngực như theo cách hát của phương Tây và được gọi là "ậm ự" . Hát đã khó (vì phải học ít nhứt là cả chục năm để trở thành ca sĩ chuyên nghiệp) lại còn phải biết gõ phách (là cả một nghệ thuật )
Hàn Quốc : Xứ Đại Hàn cũng có truyền thống hát phong phú . Trong loại hát bác học cung đình thì có hai thể loại ca khúc KAGOK và SIJO, hát chậm rãi, thoát giọng , và rung giọng khoan thai chứ không có mau lẹ , được cả một dàn nhạc Hyang ak (Hàn nhạc) đệm . Cách hát tượng trưng cho kỹ thuật hát của Hàn Quốc là trong hát tuồng PANSORI . Một ca sĩ (nữ hay nam) một mình trên sân khấu, tay cầm quạt, và tay cầm chiếc khăn đứng trên sân khấu cả 6 tiếng đồng hồ, kể chuyện với giọng hát nức nở, thổn thừc, gào thét, rên rỉ, hầm hừ, run rẩy, vv… vừa múa may chút đỉnh, với sự phụ họa của tiếng trống giống trống changgo gõ trên nhiều công thức tiết tấu rất khúc chiết .
Trung Quốc : Trung Quốc sáng tạo cách hát giọng óc (giọng the thé rất cao nghe muốn nhức óc nếu không quen) . Cách hát giọng óc (voix de tête / head voice) là chuyển sang giọng lên óc và pha trộn với giọng mũi và hát thật chanh chua chát chúa chỉ dành cho vai chánh nam và vai chánh nữ. Loại giọng này chỉ được dùng trong hát kinh hí (Peking Opera / Opera de Pekin) . Tất cả các loại tuồng khác đều dùng giọng thường. Tất cả những vai khác (lão, hề, vai phụ, ma quỷ) đều dùng giọng hát thường . Giọng này gần giống với giọng hát của những ca sĩ gọi là "CASTRAT" ở Tây phương tức là ca sĩ ngày xưa bị thiến để giữ mãi giọng đàn bà và gịọng cao soprano vì ngày xưa (Trung cổ) đàn bà không được vào nhà thờ hát . Ngày nay người hát theo kiểu Castrat hoàn toàn bình thường mà chỉ luỳện giọng cũng thành công hát được . Người hát loại giọng này nổi tiếng nhứt thế giới hiện nay là ông William Christie (người Anh) chuyên về hát giọng mái cho thể loại nhạc baroque .
Info nicely considered!.