Như đã biết, học thanh nhạc, ngoài việc tập luyện một số kỹ thuật cơ bản, còn phải học cách xử lý ngôn ngữ sao cho âm thanh lời ca phát ra nghe được rõ ràng và bảo toàn tính thẩm mỹ của ngôn ngữ từng dân tộc. Muốn xử lý ngôn ngữ Việt Nam, trước hết chúng ta phải biết sơ lược về các yếu tố ngữ âm cấu tạo nên từng tiếng, từng chữ (từng âm tiết) của ngôn ngữ Việt Nam.
1. Tiếng Việt Nam là một ngôn ngữđơn vận (đơn âm, đơn lập) nhưng lại đa thanh.
a. Đơn vận :
Là mỗi tiếng, mỗi chữ chỉ gồm có một vần, nên khi nói rời từng tiếng, khi viết rời từng chữ, các vần các chữ không dính kết lại với nhau như một số ngôn ngữ khác. Câu thơ lục bát của Nguyễn Du :
"Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau"
(Truyện Kiều)
Gồm 14 vần, 14 âm tiết, viết và đọc tách bạch nhau, không dính kết lại với nhau.
b. Đa thanh :
Là nhiều thanh điệu, nhiều dấu giọng. Cụ thể là có 6 thanh điệu, được ghi bằng 5 ký hiệu khác nhau : dấu sắc (Á), dầu huyền (À), dầu hỏi (Ả), dầu ngã (Ã ), dấu nặng (Ạ). (Gọi tắt là 5 dấu 6 giọng). Không có dấu gọi là thanh-điệu "ngang".
2. Mỗi tiếng (mỗi âm tiết) có 3 yếu tố là âm đầu, vần và thanh điệu.
Thí dụ trong chữ TOÀN
T là âm đầu
OAN là vần
Ø là thanh huyền
(3 yếu tố này được thấy rõ, chẳng hạn trong lối nói lái của Việt Nam :
Thí dụ :
- Bí mật : - Bật mí : đối vần, đổi thanh
- Bị mất : đối thanh
- Mất bị : đối âm đầu + đối vần ...).
Trong 3 yếu tố đó, thì VẦN lại gồm 3 yếu tố khác : âm đệâm + âm chính + âm cuối. Trong vần OAN, O là âm đệm, A là âm chính, N là âm cuối.
Vậy trong một âm tiết gồm tất cả 5 yếu tố :
- Âm đầu
- Âm đệm
- Âm chính
- Âm cuối
- Thanh điệu (là yếu tố ảnh hưởng lên toàn âm tiết)
Ta có sơ đồ các yếu tố của âm tiết như sau :
Thanh điệu (5) | |||
Âm đầu | Vần | ||
(1) | Âm đệm (2) | Âm chính (3) | Âm cuối (4) |
3. Ví trị âm đầu do các phụ âm đảm nhận, gọi là các phụ âm đầu
a. Đặc tính của các phụ âm là tự nó không phát ra âm thanh lớn được, mà cần kèm theo một nguyên âm, thì nó mới phát thành tiếng rõ ràng được. Khi đọc các phụ âm, làn hơi phải vượt qua một vật cản nào đó do tác động của môi lưỡi phối hợp, rồi mới đi ra ngoài theo đường miệng. Muốn đọc rõ các phụ âm thì phải cấu âm cho đúng cách, bằng cách tạo các điểm cản làn hơi bằng môi hay lưỡi (hình 8, 9, 10).
b. Các phụ âm đầu Việt Nam gồm : B, C, CH, D, Đ, G (GH), GI, H, (K), KH, L, M, N, NH, NG (NGH), PH, Q (U), R, S, T, TH, TR, V, X.
Nếu phận loại dựa theo cách cấu âm, ta sẽ có 5 loại chính :
* Phụ âm môi :
- môi + môi : m - b ; (p) : bình minh
- môi + răng : v - ph (f) : vi phạm
* Phụ âm đầu lưỡi :
- đầu lưỡi + răng trên : t - th : tinh thần
- đầu lưỡi + hàm răng khít : x : xinh xắn
- đầu lưỡi + chân răng-vòm cứng: n - đ - l : nó đẹp lắm
- đầu lưỡi cong + vòm cứng : (l) - r - tr - s : rộn ràng, trong sáng
- đầu lưỡi rung + vòm cứng : r (r rung hơi khác với r mềm ở hàng trên) : run rẩy, rung rinh
- đầu lưỡi bẹt + vòm cứng : d - gi : dòng giống
* Phụ âm mặt lưỡi :
-mặt lưỡi + vòm miệng : ch - nh : chi nhánh
* Phụ âm cuống lưỡi :
- cuống lưỡi ngoài + vòm mềm : kh - g (gh) : khiêng gánh
- cuống lưỡi trong + vòm mềm : ng (ngh) - c (k,q) : ngông cuồng, nguy kịch quá
· Phụ âm thanh hầu :- cuống lưỡi thụt về phía sau để thu hẹp thanh hầu : h : hầu hạ.


Lưu ý :
- âm l có thể cấu âm ở cả 2 vị trí. Đối với người thường đọc lộn l ra n, và n ra l thì nên dùng l cong lưỡi để tập luyện. Không nên cong lưỡi quá, sẽ không tự nhiên.
- âm r mềm ở hàng trên đọc gần giống như chữ j trong tiếng Pháp. Còn r rung thường gặp ở miền Trung, chỉ nên dùng để đọc các chữ diễn tả sự rung động như : rung rinh, run rẩy, run run ... và để đọc các chữ r của tiếng La-tinh như Ma-ri-a, Ro-sa ...
c. Có một số âm tiết không có phụ âm đầu như ăn, uống, an ủi ... còn đa số các âm tiết đều có phụ âm đầu. Muốn cho rõ tiếng, cần tập : "bật môi, đánh lưỡi" cho đúng cách. Vai trò của lưỡi quan trọng nên người ta khuyên nên "đánh lưỡi bảy lần trước khi nói" là vậy.