6. Ban Chiêu - nhà nữ sử học đầu tiên Trung Quốc

Ban Chiêu sinh vào thời Đông Hán Trung Quốc cách đây hơn 2000 năm, còn gọi là Ban Phi, bà xuất thân trong một gia tộc nổi tiếng, rất có tài hoa về văn học. Cha tên là Ban Bưu là nhà văn nổi tiếng Trung Quốc thời bấy giờ, Ban Chiêu thưởng được mời vào Hoàng cung để dạy kinh sử cho hoàng hậu và các quý nhân trong cung đình. Năm 14 tuổi, Ban Tiêu gả cho Tào Thế Thúc, tổ ấm của đôi vợ chồng trẻ này rất hạnh phúc.
Tài khiếu viết văn của Ban Chiêu trước hết thể hiện trong quá trình giúp anh trai tên là Ban Cố viết cuốn "Tiền Hán Thư", đây là cuốn sử đoạn đại mang thể loại ký truyện đầu tiên của Trung Quốc, có địa vị ngang hàng với cuốn "Sử Ký" của Tư Mã Thiên thời Tây Hán trên lịch sử. Cha của Ban Chiêu là người đầu tiên bắt tay vào việc viết bộ sử này, sau khi cha qua đời, anh trai Ban Chiêu tên là Ban Cố tiếp tục hoàn thành việc này, không ngờ Ban Cố bị một vụ án làm iên lụy rồi bị chết trong ngục. Trước kia Ban Chiêu cũng tham gia vào cả quá trình viết bộ sử này, sau khi cha và anh trai qua đời, bà tiếp tục nối nghiệp cha anh, cho mãi đến khi hoàn bộ sách này. Sau khi bộ "Tiền Hán Thư" cho xuất bản, đã được sự đánh giá rất cao. Chương gay cấn nhất trong "Tiền Hán Thư" là bảng thứ 7 "Bảng bách quan công khanh" và chí thứ 6 "Thiên văn chí", hai bộ phận này về sau đều do Ban Chiêu hoàn thành.
Học thức của Ban Chiêu hết sức tinh túy, để cầu được sự chỉ dẫn của Ban Chiêu, nhà học giả lớn hồi bấy giờ tên là Mã Dung đã phải quỳ ở bên ngoài thư viện đọc sách của Ban Chiêu để lắng nghe bà giảng giải.
Ban Chiêu có một người em trai tên là Ban Siêu, chàng cũng là một người viết văn, về sau gác bút ra trận, lập nên nhiều chiến công lẫy lừng, và được phong làm Định Viễn Hậu, khiến nhà Hán lừng danh khắp Trung Á và Tây Á suốt 30 năm. Năm thứ 12 Vĩnh Nguyên thời Hán Hoà Đế, Ban Siêu đã cao tuổi, ông nhờ con trai đến Lạc Dương để chầu chương vua, bày tỏ mong muốn được trở về quê hương để hưởng những năm cuối đời về già. Thế nhưng trong suốt ba năm liền nhà vua không hề đoái hoài đến nguyên vọng của Ban Siêu. Nghĩ đến người anh trai của mình Ban Cố đã qua đời, Ban Chiêu hết sức thương cảm trước tâm trạng của Ban Siêu đã hơn thất thập mà còn phải sống trên đất khách quê người, quyết định bất chấp hết thảy đi thuyết phục hộ cho Ban Siêu.
Thế là Ban Chiêu trình thư lên vua, trong thư Ban Siêu dẫn lại nhiều điển tích, ám thị nhà vua nên thương hại cho người em trai mình đã tuổi cao sức yếu muốn trở về quê nhà, bài viết của Ban Chiêu có tình có lý, vua đọc xong cũng phải động lòng. Không bao lâu, nhà vua liền cử một vị đại tướng thay thế Ban Siêu. Chính vài viết của Ban Chiêu đã thuyết phục nhà vua cho phép Ban Siêu rời khỏi triều đình.
Tài viết văn của Ban Chiêu còn thể hiện trong bài số 7 mang tựa đề "Nữ giới". Bài viết này chủ yếu nói lên phụ nữ con gái nên ăn nói đi đứng như thế nào, nên sử lý công việc quan hệ gia đình ra làm sao, bài viết này của Ban Chiêu vốn là cuốn giáo khoa gia giáo riêng của gia đình mình để khuyên răn con gái gia tộc họ Ban, không ngờ về sau bài viết này được truyền tay chép trong khắp Kinh thành, rồi sau nữa truyền ra và nổi tiếng khắp cả nước.
Ban Chiêu chủ yếu sống trong thời Hán Hoà Đế, về sau nhà vua băng hà, vua mới lên nối ngôi lại ít tuổi, thái hậu bèn ra triều sử lý việc nước. Ban Chiêu được tôn làm sư phụ tham gia vào các công việc triều đình, bà hết lòng trung hiếu, dốc hết tài trí của mình cho đất nước. Về sau Ban Chiêu tuổi cao sức yếu rồi qua đời, Thái Hậu liền mặc áo đơn sơ để tưởng niệm và làm lễ quốc táng để tiễn đưa bà đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Ban Chiêu là một người phụ nữ tài ba, học vấn uyên bác, phẩm chất cao thượng, bà không những là một nhà sử học, nhà văn học mà còn là một nhà chính trị nổi tiếng thời cổ Trung Quốc.
7. Thái Diễm

Thái Diễm cũng gọi là Thái Văn Cơ, một nữ sĩ tài hoa đời Tam Quốc (220-264). Cha nàng là Thái Ung, có tài thẩm âm vào bực nhứt cổ kim. Tương truyền, thấy một người chụm củi, ông bảo: "Tôi nghe tiếng củi đó nổ, biết là củi tốt, sao đem chụm cho uổng". Ông xin khúc củi về, làm một cây đàn, tiếng rất trong.
Nàng Thái Diễm lên 8 đã giỏi đàn. Có chồng là Vệ Đạo Giới nhưng lại góa chồng sớm, không con. Đương lúc Đổng Trác nổi loạn, nàng bị rợ phương bắc bắt về đất Phiên, phải sống tủi nhục ở với Hung Nô. Nàng nhớ quê hương, mới làm ra 18 khúc kèn rợ Hồ. Những bản nhạc này truyền vào Trung Nguyên. Tào Tháo là chúa nước Ngụy, trước vốn là bạn thân của cha nàng, nay lại thưởng thức bản nhạc, động lòng thương xót, mới sai người đem ngàn lượng vàng lên phương bắc chuộc nàng về.
Vua đất Hồ là Tả Hiền vương vốn sợ uy thế của Tào Tháo phải cho người đưa nàng về Hán. Tháo lại đứng làm chủ gả nàng cho Đổng Kỷ.
Khi về nước, nàng Thái Diễm có làm bài "Bi phẫn thi" dài 540 chữ, tả nỗi long đong của nàng, lời cực kỳ thống thiết, mỗi chữ như một giọt lệ.
Dục tử bất năng đắc,
Dục sinh vô nhứt khả.
Bỉ sương giả ha cô?
Nãi lao thử ách họa!
Nghĩa:
Muốn chết mà không được,
Muốn sống thêm vất vả.
Hỡi trời xanh tội gì?
Bắt ta gặp tai họa!
Hồ phong xuân hạ khởi,
Phiên phiên suy ngã y,
Túc túc nhập ngã nhĩ.
Cảm thời niệm phụ mẫu,
Ai thán vô cùng dĩ!
Nghĩa:
Xuân hạ, gió Hồ nổi,
Phất phất tà áo ta.
Ào ào bên tai thổi,
Cảm xúc sinh nhớ nhà,
Cùng khổ thay nông nỗi.
(Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)
Một hôm, Tào Tháo đem quân đánh Lưu Bị, tiện đường ghé thăm. Đổng Kỷ làm quan xa chỉ có nàng ở nhà. Nghe tin Tháo đến, nàng vội ra rước vào. Tháo ngồi trên sập, nàng thi lễ xong chắp tay đứng hầu bên. Tháo nhìn lên vách, chợt thấy một tấm bìa treo, có ghi bài văn bia, bèn đứng dậy bước đến xem và hỏi nguồn gốc. Thái Diễm thưa:
- Đây là bài văn bia đề một nàng Tào Nga. Xưa đời Hòa Đế, ở vùng Thượng Ngu có một người đồng bóng tên Tào Vu, hay lên đồng nhảy múa. Một hôm vào ngày mồng 5 tháng 5, Vu say rượu, đứng múa may trên thuyền, sẩy chân té xuống sông chết. Cô con gái của Vu vừa lên 14 tuổi, quá thương cha, cứ đi dọc bờ sông kêu khóc suốt 7 ngày đêm, rồi nhảy xuống nước mất tích. Qua 5 ngày sau, bỗng thấy nàng đội xác cha nổi lên mặt sông. Người trong làng vớt xác cả hai chôn cất. Quan huyện Thượng Ngu là Đỗ Thượng tâu việc ấy về triều. Triều đình khen nàng Tào Nga là gái hiếu, truyền cho lập bia. Đỗ Thượng lại sai Hàn Đan Thuần làm bài văn khắc vào bia để ghi lại việc ấy. Hàn Đan Thuần bấy giờ mới 13 tuổi, cầm bút viếc ngay một hơi thành bài văn, chẳng phải sửa chữa một chữ. Đỗ Thượng chịu là hay, cho khắc vào bia dựng bên mộ nàng Tào Nga. Thời bấy giờ, ai đọc cũng lấy làm lạ. Tiếng văn hay đồn dậy xa gần... Phụ thân thiếp nghe tiếng cũng tìm đến xem, gặp lúc trời tối, không nhìn thấy chữ, phải sờ vào bia, lần từ nét mà đọc. Đọc xong, người lấy bút viết 8 chữ lớn vào sau lưng bia. Về sau, có người khắc cả 8 chữ vào đấy.
Tào Tháo thấy 8 chữ ấy cũng ghi trên bức bia, bên cạnh bài văn như sau: "Hoàng quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cửu".
Tháo hỏi Diễm:
- Nhà ngươi có hiểu ý nghĩa 8 chữ này không?
Nàng thưa:
- Tuy là di bút của cha, nhưng thú thật thiếp cũng hiểu ý nghĩa ra sao.
Tháo quay lại hỏi các mưu sĩ, mọi người đều chịu không biết. Bấy giờ có quan Chủ bạ là Dương Tu lên tiếng:
- Tôi hiểu ra rồi.
Tu giải:
- Tám chữ đó là ẩn ngữ của Thái Ung. "Hoàng quyến" là lụa màu vàng, tức là màu sắc của tơ (ti sắc), chữ "ti" với chữ "sắc" hợp lại thành chữ "tuyệt". "Ấu phụ" nghĩa là con gái còn nhỏ, tức là "thiếu nữ". Chữ "thiếu" đứng bên chữ "nữ" hợp thành chữ "diệu". "Ngoại tôn" là cháu ngoại. Cháu ngoại tức là đứa con của con gái mình (nữ nhi tử). Chữ "nữ" chắp với chữ "tử" thành chữ "hảo". "Tê cửu" là cái cối giã hành tỏi. Cái cối là vật chịu cay (thụ tân). Chữ "thụ" đặt bên chữ "tân" thành chữ "từ". Tóm lại, đó là ẩn chữ "Tuyệt diệu hảo từ", tức Thái Ung đã hết lời khen tặng văn chương của Hàn Đan Thuần vậy.
Mọi người đều khen Dương Tu tài thức mẫn tiệp.
8. Tạ Đạo Uẩn

9. Võ Tắc Thiên

10. Thượng Quan Uyển Nhi

11. Liễu Như Thị

12. Tả Phấn

13. Lý Hương Quân

14. Triệu Phi Yến

15. Chân hoàng hậu

16. Hoa Nhị phu nhân

17. Hầu phu nhân

18. Đường Uyển

19. Tiết Đào
