Vitamin là các hợp chất hữu cơ cần thiết cho chuyển hóa của người bình thường, không tổng hợp được bởi cơ thể, do vậy phải được cung cấp từ thức ăn ở những lượng nhỏ hoặc dùng vitamin tổng hợp khi nguồn dinh dưỡng không bảo đảm nhu cầu.
Vitamin nào bổ gì?
Có 2 nhóm vitamin: nhóm tan trong dầu (vitamin A, D, E, K) được tồn trữ trong cơ thể và nhóm tan trong nước (vitamin C và các vitamin B) thường ít được giữ lại.
Từ lâu các bệnh do thiếu vitamin đã được mô tả nhiều như: quáng gà, scorbut, beri-beri... được chữa bằng vitamin tương ứng. Việc sử dụng các chất bổ sung vitamin trong điều kiện lâm sàng khi bị thiếu là cần thiết trong trường hợp cung cấp không đủ, hấp thu kém... Tuy nhiên sử dụng liều cao vitamin (hơn 10 lần nhu cầu sử dụng hàng ngày) thì được ủng hộ trong điều trị và ngăn ngừa rối loạn do không đủ vitamin.
Liều vitamin đề nghị sử dụng hàng ngày cho người lớn:
Vitamin A | 1000µg (# 3000 UI) |
Vitamin D | 5µg |
Vitamin E | 100mg |
Vitamin C | 60mg |
Vitamin B1 | 1,4mg |
Vitamin B2 | 1,6mg |
Vitamin B3 | 18mg |
Vitamin B6 | 2,2mg |
Vitamin B8 | 100 - 200µg |
Vitamin B9 | 400µg |
Vitamin B12 | 3µg |
Vitamin A có mặt trong các quá trình sinh học: tăng trưởng, thị lực, sinh sản... nên từ lâu đã được dùng để ngăn ngừa và điều trị sự phát triển bất thường, bệnh trứng cá và các bệnh da khác (bạch biến, vảy cá, viêm nang lông đỏ...)
Vitamin D được tổng hợp ở da dưới tác động tia cực tím và một phần thu nhận từ thức ăn, có vai trò trong điều hòa calci và phospho huyết tương, trợ giúp sự khoáng hóa xương và chức năng hệ thần kinh cơ..., được dùng trong thiểu năng cận giáp, loãng xương sau mãn kinh.
Vitamin E có tính chống oxy hóa nên được khuyên dùng để ngừa lão hóa và ung thư.
Vitamin K được tổng hợp ở ruột và từ thức ăn đưa vào, tham gia vào quá trình đông máu.
Vitamin C, tác dụng có lợi được ghi nhận trong các trường hợp: nhiễm trùng, dị ứng, các trạng thái ngộ độc nhiều loại...
Vitamin B1 thiếu sẽ dẫn đến bệnh beri-beri, đặc trưng bởi viêm thần kinh ngoại biên, suy tim cung lượng cao, phù nề và mất myelin của hệ thần kinh trung ương.
Vitamin B2 thiếu sẽ đưa đến viêm khóe miệng, viêm bìu.
Vitamin B3 hiệu quả trong điều trị Pellagra, đặc trưng là viêm ở phần da lộ ra ánh sáng, tiêu chảy... và còn được ghi nhận là một tác nhân hạ lipid máu.
Vitamin B6 tham gia chuyển hóa acid amin và tổng hợp nhân hồng cầu, nếu thiếu sẽ gây thiếu máu, phát triển kém, có thể gây co giật ở trẻ.
Vitamin B8 thiếu sẽ gây viêm da bã nhờn, chán ăn, đau cơ, rụng tóc.
Vitamin B9 thiếu sẽ đưa đến bệnh thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ; bà mẹ mang thai không cung cấp đủ acid folic (B9) sẽ tổn thương ống thần kinh của thai (tật nứt đôi đốt sống).
Vitamin B12 duy trì vỏ myelin của hệ thần kinh và khi thiếu sẽ gây bệnh thiếu máu Biermer.
Một số điểm cần lưu ý khi bổ sung vitamin:
Vitamin từ thực phẩm ít khi gây rối loạn hoặc thừa. Tai biến ngộ độc thường do dùng vitamin tổng hợp gây nên. Quan niệm sai lầm coi vitamin tan trong nước là vô hại vì không tích luỹ, đặc biệt là sự lạm dụng các vitamin PP, vitamin C liều cao, choáng phản vệ do tiêm tĩnh mạch vitamin B1...
Các vitamin trong thiên nhiên (động vật, thực vật) thường dạng phức hợp và dạng này sẽ dễ phát huy tác dụng sinh học.
Khi thiếu vitamin thường thiếu nhiều vitamin cùng lúc nên việc sử dụng đa sinh tố thường hợp lý, tiết kiệm, an toàn và hiệu quả cao, tránh tác hại do dùng một vitamin kéo dài. Tuy vậy vẫn cần theo đúng chỉ dẫn trên hộp thuốc, toa thuốc, thầy thuốc. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý trên một cơ thể lành mạnh tức là đã bổ sung đủ vitamin, trừ một số trường hợp đặc biệt cần dùng thêm vitamin (với cách dùng và liều lượng có sự chỉ dẫn của thầy thuốc) như: khi có thai, tuổi dậy thì, người làm việc nặng hoặc những trường hợp đã nêu trên.